Chia sẻ bài viết này:

Môn thể dục này giúp ta tăng cường sức khỏe, chữa bệnh, khai thông đốc mạch, dồn điển lên bộ đầu, và giúp cho phần luyện đạo được nhẹ nhàng hơn. Ta có thể thực hành bất cứ lúc nào trong ngày, khi bụng trống hay trước khi luyện công phu trong đêm khuya

Trước tiên nói về tinh thần:

Phải có hào khí: nghĩa là có quyết tâm tập cho đến nơi và đều đặn, kiên nhẫn vững vàng, tin tưởng, không nghe lời bàn ra tán vào mà chán nản bỏ đi.

Phải lạc quan: không lo sợ vì bệnh mà mọi người cho là bệnh hiểm nghèo và tươi tỉnh tin rằng mình sẽ thắng bệnh do luyện tập

Tư thế:

“Trên không, dưới có, lên ba, xuống bảy”

Đứng thẳng, ngực ưỡn, hai bàn chân dạng ra song song và rộng bằng vai của mình. Co các đầu ngón chân lại, bấm vào mặt thảm hay chiếu. Lưỡi co lại, đầu lưỡi chạm nhẹ vào nướu và chân răng cửa hàm trên. Miệng ngậm. Răng kề răng (răng cửa hàm trên và hàm dưới chạm nhẹ vào nhau). Mắt nhắm, nhìn thẳng về phía trước, từ “ấn đường” tức điểm giữa hai đầu lông mày. Nếu mở mắt ra thì mắt hướng vào một điểm nào đó trước mặt – Nhưng mắt nhắm, hơi thở bình thường. Tư tưởng tập trung trên đỉnh đầu, có thể niệm “lục tự di đà”.

Đầu nên lơ lửng, miệng không hoạt động, bụng phải mềm, lưng nên thẳng, thắt lưng mềm dẻo.

ĐỘNG TÁC:

Hai cánh tay đưa song song ra phía trước, tay và đường thẳng đứng của thân làm thành một góc 30o.

Cánh tay duỗi thẳng, cổ tay cong ngoắt lên trên, ngón tay hướng về phí trước. Rồi từ từ đưa hai cánh tay song song về phía sau đến hết mức và cụp bàn tay len, lòng bàn tay ngửa hướng lên trên. Động tác thật chậm rãi, dịu dàng và nhẹ nhàng.

Cánh tay phải vẫy, cùi chỏ thẳng và mềm, cổ tay trầm, bàn tay quay lại phía sau, ngón xòe như cái quạt.Khi vẫy tay, lỗ đít phải thót, bụng dưới thót, gót chân lỏng, hậu môn phải chắc, bàn chân phải cứng, các ngón chân bấm chặt như đứng trên đất trơn. Đây là những qui định cụ thể của các yếu lĩnh khi luyện “Vẩy tay Đạt Ma Dịch Cân Kinh”.

Dựa trên yêu cầu này, khi tập vẫy tay, thì từ cơ hoành trở lên phải giữ cho được trống không, buông lỏng thảnh thơi, đầu không nghĩ ngợi lung tung, chỉ chú ý vào việc tập, xương cổ cần buông lỏng để cho có cảm giác như đầu treo lơ lửng, miệng giữ tự nhiên (không mím môi), ngực nên buông lỏng để cho phổi thở tự nhiên, cánh tay buông tự nhiên, giống như hai mái chèo gắn vào vai. Từ cơ hoành trở xuống phải giữ cho chắc, đủ sức căng, bụng dưới thot vào, hậu môn nhích lên, mười ngón chân bám chặt vào mặt đất, giữ cho đùi và bắp chân trong trạng thái căng thẳng, xương mông thẳng thẳng như cây gỗ.

Khi vẩy tay cần nhớ “lên không, xuống có”, nghĩa là lấy sức vẩy tay về phía sau, khi tay trở lại phía trước là do quán tính, không dùng sức để đưa tay ra phía trước.

Mắt nhìn thẳng, đầu không nghĩ ngợi gì, chỉ nhẩm đếm số lần vẫy tay.

THỜI LƯỢNG:

Tập như vậy khoảng 15 đến 30 phút. Có thể làm nhiều lần trong một ngày.

CÁC THAO TÁC TẬP CỤ THỂ

  1. Hai cánh tay duỗi thẳng theo vai, ngón tay xòe thẳng, lòng bàn tay quay về phía trước.
  2. Bụng dưới thót lại, lưng thẳng, bụng trên co lên, cổ lỏng, đầu và miệng trong trạng thái bình thường.
  3. Các ngón chân bám chặt mặt đất, gót chân sát đất, bắp chân và đùi căng thẳng.
  4. Hai mắt chọn một điểm đàng xa để nhìn, không nghĩ ngợi lung tung, chỉ chú ý vào ngón chân bám, đùi vế chắc, lỗ đít thót và nhẩm đếm.
  5. Dùng sức Vẩy tay về phía sau, để hai tay trở lại phía trước theo quán tính, tuyệt đối không dùng sức, chân vẫn lên gân, hậu môn co lên không lồi.
  6. Vẩy tay từ 300-400-500-600 dần dần lên tới 1000 cái mỗi lần trong khoảng 30 phút.
  7. Phải có quyết tâm tập đều đặn, lần Vẩy tay dần dần tăng lên không miễn cưỡng vì “dục tốc bất đạt”, nhưng cũng không tùy tiện bữa tập nhiều, bữa tập ít hoặc nghỉ tập, vì thế dễ làm mất lòng tin trong việc luyện tập, như vậy khó có kết quả.

 

Bắt đầu luyện tập cũng không nên dùng hết sức làm tổn thương các ngón chân. Sau buổi tập nên vân vê các ngón chân, tay, mỗi ngón chín lần.

Nôn nóng mong muốn khỏi bệnh ngay mà dùng quá sức cũng không đưa lại kết quả mong muốn.

Có quyết tâm nhưng phải từ từ tiến lên mới là đúng cách, sẽ thu được kết quả mong muốn.

Nếu tinh thần không tập trung, tư tưởng phân tán, thì khí huyết loạn xạ, và không chú ý đến “trên nhẹ, dưới nặng” là sai và hỏng.

Khi vẩy tay tới 600 cái trở lên, thường thường có trung tiện (đánh rắm), hắt hơi, hai chân nhức mỏi, toát mồ hôi, mặt nóng bừng… đấy là hiện tượng bình thường, có phản ứng là tốt, là đã có hiệu quả, đừng lo lắng.

Trung tiện và hắt hơi là do nhu động của đường ruột tăng lên, đẩy mạnh cơ năng tiêu hóa. Chân mỏi là do khí huyết dồn xuống cho hợp với “trên nhẹ, dưới nặng”. đây là quy luật của sinh  lý phù hợp với vũ trụ “thiên kinh, địa trọng”.

 

BỆNH GAN: do khí huyết, tạng gan không tốt gây nên khí không thoát, tích lũy, làm cho khó bài tiết. Đương nhiên là bệnh nan y ảnh hưởng tới cả mật và tì vị. Luyện “Vẩy tay Dịch Cân Kinh” có thể giải quyết vấn đề này. Nếu sớm có trung tiện là có kết quả sớm.

 

BỆNH MẮT: Luyện tập môn này có thể khỏi đau mắt đỏ, các chứng đau mắt thông thường, cận thị, thậm chí nó chữa được cả bệnh đục thủy tinh thể(thông manh).

 

Trong nội kinh có nói: “mắt nhờ huyết mà nhìn được”, khi khí huyết không dẫn đến bộ phận của mắt thì đương nhiên sinh ra các bệnh của mắt. Con mắt là trong hệ thống của thị giác, nhưng cũng là một bộ phận của cơ thể.

 

NHỮNG PHẢN ỨNG CÓ THỂ GẶP PHẢI TRONG KHI LUYỆN TẬP

  1. Đau buốt. 13. Lông, tóc dựng đứng.
  2. Lạnh. 14. Giật gân, giật thịt.
  3. Đầy hơi. 15. Âm nang(bìu dái) to lên.
  4. Ngứa. 16. Máy mắt, mí mắt giật.
  5. Tê dại. 17. Hơi thở ra nhiều, thở dốc…
  6. Nóng. 18. Trung tiện.
  7. Sưng. 19. Huyết áp biến đổi.
  8. Ra mồ hôi. 20. Sắc mặt biến đổi.
  9. Lưng đau. 21. Chảy máu cam.
  10. Đầu nặng. 22.Đau mỏi toàn thân.
  11. Nấc. 23. Ứa nước miếng.
  12. Nôn mửa, ho. 24. Tiểu tiện nhiều.

 

  1. Đại tiện ra máy, mủ hoặc phân đen.
  2. Có cảm giác như kiến bò, kiến cắn.
  3. Đau xương, có tiếng kêu lục cục.
  4. Có cảm giác máu chảy dồn dập.
  5. Gót chân nhức nhối như mưng mủ.
  6. Cụm trắng ở lưỡi biến đổi.
  7. Da cứng, da dầy (chai chân, mụn cóc).
  8. Trên đỉnh đầu mọc mụn.
  9. Bệnh từ trong da thịt tiết ra.
  10. Ngứa từng chỗ hay toàn thân.

 

Các phản ứng trên là do trọc khí trong người bị bài tiết ra ngoài cơ thể, loại trừ chất ứ đọng, tức tử bệnh tật.

Có phản ứng là có sự xung đột giữa chính khí và tà khí. Ta vẫn tiếp tục luyện tập vẩy tay sẽ sản sinh ra chất bồi bổ, có nhiều ích lợi cho chính khí. Ta luyện tập đúng phép là làm tăng mức đề kháng, thải cặn bã trong các gân, thần kinh và cả tế bào khác, mà máu bình thường không thải nổi. Khi luyện tập khí huyết lưu thông mới thải nổi các cặn bã ra, nên sinh ra phản ứng. Vậy ta không cần lo lắng, cứ kiên trì luyện tập, hết một phản ứng là khỏi một căn bệnh, tập luyện dần đưa lại kết quả tốt.

 

MỘT SỐ ĐIỂM CẦN CHÚ Ý

  1. Số lần Vẩy tay không nên ít: từ 600 cái tới 1800 (30 phút) mới là toại nguyện cho việc điều trị.Bệnh nhân nặng, có thể ngồi mà vẫy tay, tuy ngồi nhưng phải nhứ thót đít và bấm 10 đầu ngón chân.

 

  1. Số buổi tập:

*Buổi sáng thanh tâm             tập mạnh.

*Buổi chiều trước khi ăn        tập vừa.

*Buổi tối trước khi ngủ           tập nhẹ

 

  1. Có thể tập nhiều nhất là bao nhiêu? Ngưỡng cửa của sự chuyển biến bệnh là 1800 lần vẫy tay, có bệnh nhân vẫy tới 3000-6000. Nếu sau khi tập thấy ăn ngon, ngủ tốt, đại tiểu tiện điều hòa, tinh thần tỉnh táo, thì chứng tỏ con số ta tập là thích hợp.

 

  1. Tốc độ vẫy tay: Theo nguyên tắc thì nên chậm, chứ không nên nhanh. Bình thường vẫy chậm thì 1800 cáu gết 30 phút. Vẩy tay tới lúc nửa chừng thường nhanh hơn lúc ban đầu một chút, đây là lực đông của khí. Khi mới vẫy rộng vòng và chậm một chút. Khi đã thuần thì vẫy hẹp vòng, người bệnh nhẹ thì nên vẫy nhanh và dùng sức nhiều, người bệnh nặng thì nên vẫy chậm, hẹp vòng. Vẩy tay nhanh quá làm cho tim đập nhanh, mà vẫy chậm quá thì không đạt tới mục đích luyện tập là làm cho mạch máu lưu thông. Vì vậy tự mỗi người tìm ra tốc độ hợp lí cho bản thân mình qua kết quả luyện tập sao cho thích hợp và hiệu quả.

 

  1. Vẩy tay nên dùng sức nhiều hay ít, nặng hay nhẹ? Vẩy tay là môn thể dục chữa bệnh, chứ không phải là môn thể thao đặc biệt. Đây là môn thẻ dục mềm dẻo, đặc biệt là dùng ý mà không dùng sức. Nhưng nếu vẫy nhẹ quá cũng không tốt bởi vì bắp vai không được lắc mạnh thì lưng và ngức cũng không được chuyển động nhiều, tác dụng sẽ giảm. Vẩy tay không phải chỉ chuyển động cánh tay mà phần chính vẫn là chuyển động bắp vai. Bệnh phong thấp thì nên dùng mưc “nặng” một chút. Bệnh huyết áp cao thì nên Vẩy tay chậm và nhẹ.

 

Nói tóm lại: phần lớn phải tự mình nắm vững tình trạng, phân tích những triệu chứng sau khi tập, nghe sự nhận xét của mọi người xung quanh, thấy sự chuyển biến của mình nhanh nhẹn hơn, tươi tỉnh hơn hay là kém khi trước, rồi tự mình suy nghĩ và quyết định cách tập và luôn luôn tổng kết, trên nguyên tắc là tập thế nào cho người thấy thoải mái, dễ chịu hơn là đúng, là tốt nhất.

Đông y cho rằng động tác nhẹ là bổ ích cho cơ thể, động tác mạnh(nặng) là bả (loại bỏ các chất cặn bã có hại trong người, tức là bệnh tật). Lý luận này cũng đang được nghiên cứu.

 

  1. Mức độ vẫy tay: Chỉ Vẩy tay về phía sau dùng sức

7 phần, không vẫy về phía trước, mà do quan tính phản xạ tự nhiên của cánh tay cho là 3 phần.

 

  1. Có cần đếm không? Đếm không phải chỉ để nhớ mà còn có tác dụng làm cho óc được bình thản, tim được trầm tĩnh, chính khí được bồi dưỡng, có tác dụng làm cho bộ não được nghỉ ngơi và thăng bằng, không nghĩ ngợi lung tung.

 

  1. Nơi tập: Không có gì là đặc biệt về chỗ tập, tập ở đâu cũng được, trong nhà, ngoài trời. Dĩ nhiên nơi nào có dưỡng khí trong sạch và yên tĩnh vẫn tốt hơn. Tránh nơi có gió lùa, mùa hè hay mùa đông đều tránh đứng đầu ngọn gió.

 

  1. Trước và sau khi tập: Trước khi tập nên đứng bình tĩnh cho tâm được thoải mái, yên tĩnh, để chuyển hóa về sinh lý và tâm lý. Ta có thể làm những động tác nhẹ nhàng thoải mái, như trong môn “khí công”.

Đến khi tập xong cũng nên bình tĩnh mà vê 10 đầu ngón chân, 10 đầu ngón tay. Những người không đủ bình tĩnh, cần đặc biệt chú ý tới điều này.

 

  1. Tập “Dịch Cân Kinh” thế nào cho đúng? Sau khi tập cảm thấy ngực và bụng nhẹ nhàng, dễ chịu, hơi thở điều hòa, mắt sáng, nước miếng ứa ra, đại tiện nhuận, ăn ngon, tinh thần tỉnh táo, bệnh tật bớt dần, thì đấy là tập đúng. Rất ít khi tập sai, tỉ lệ tập sai dưới 1%.

 

Sau khi tập đại đa số đều thấy có phản ứng nhưng về hiệu quả thì rất khác nhau, nguyên nhân chính là tư thế khi tập có thích hợp với thể chất người tập hay không.

 

  1. Lúc bắt đầu tập nên chú ý đến điểm nào?
  • Nửa thân trên buông lỏng: thượng – hư.
  • Nửa thân dưới giữ chắc: hạ – thực.
  • Tay ra phía trước: không dùng lực(nhẹ nhàng).
  • Vẩy tay ra sau: có dùng sức(nặng).

Tập đếm số lần Vẩy tay ngày một tăng, ngày 3 buổi tập, kiên quyết “tự thân chữa bệnh cho mình”.

  1. Trạng thái tinh thần lúc tập: Có liên quan đến hiệu quả tập rất lớn:

– Hết lòng tin tưởng.

– Kiên quyết tới cùng.

– Tập đủ số lượng nhất định, tập thường xuyên. Có thể hiểu quả rất lớn.

Nếu khi tập, khi nghỉ, tập không đủ số lượng nhất định. Lòng còn nghi hoặc. Còn bị động dư luận ngoài. Thấy phản ứng đã lo sợ, bỏ tập. Hỏi làm gì có kết quả tốt.

Vẩy tay có sinh ra bệnh gì không?

Có thể bệnh do tư thế không đúng và làm sai nguyên tắc, những trường hợp ấy cũng hãn hữu, như trên đã nói, dưới 1%.

Có phản ứng đừng ngại mà ngừng tập, vì đó là diễn biến tốt, cứ tập số đếm như cũ, qua phản ứng, sẽ tăng số lần Vẩy tay lên. Kiên trì, quyết tâm luyện tập, tin tưởng “các bệnh tật sẽ khỏi”.

Vững lập trường, không hoang mang vì dư luận, lạc quan với cuộc sống. Chỉ cần niềm tin bằng hạt cải là có thể dời núi (Nghĩa bóng là vững niềm tin mà tập đến nơi đến chốn, thì bệnh nguy nan như trái núi cũng dời khỏi người)

Có quyết tâm là thực hiện được ngay, càng để chậm là ngần ngại càng khó khăn thêm, càng lâu khỏi bệnh.

Xem thêm các bài về quà tặng mạnh khỏe sống lâu tại đây

Tải về trọn bộ PDF tại đây Qua tang

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *