Kích thước A4 – Những điều thú vị có thể bạn muốn biết

Nói đến giấy kích thước A4 chúng ta nghĩ ngay đến những tập giấy in, những quyển vở khổ A4. Những cái đó quá quen thuộc với cuộc sống hàng ngày của chúng ta. Nhưng có bao giờ bạn thử đi sâu vào tìm hiểu xem tại sao nó lại được gọi là giấy A4. Kích thước của nó là bao nhiêu? Tên gọi được được ra đời như thế nào? Nó có gì đặc biệt? Tất cả sẽ được khám phá trong bài viết này bạn nhé.

Kích thước A4 là 21 cm x 29,7 cm

Khổ giấy kích thước A4

Trước tiên ta hãy nói về kích thước A4: Nó có chiều rộng 21 cm và chiều dài 29,7 cm.. Nó nằm trong các khổ giấy dòng A được quy định theo tiêu chuẩn ISO 216. Nói là khổ giấy dòng A bởi vì ngoài kích thước A4 còn có các kích thước khác như: A0, A1, A2, A3…..A10. Các bạn có thể tham khảo các kích thước khác tại đây

Vậy kích thước A4 có gì đặc biệt?

Tất cả khổ giấy dòng A đều giống nhau một điểm là chiều dài chia cho chiều rộng sẽ bằng 1,4142.

Kích thước A4 và A5

Ưu điểm chính của hệ thống này là khả năng mở rộng. Giấy hình chữ nhật có tỷ lệ khung hình √ 2 có đặc tính duy nhất là khi cắt hoặc gấp một nửa ở giữa các cạnh dài hơn, mỗi nửa có cùng tỷ lệ khung hình √ 2 như toàn bộ tờ giấy trước khi được chia. Tương tự, nếu một người đặt hai tờ giấy có cùng kích thước với tỷ lệ khung hình là √ 2 cạnh nhau dọc theo cạnh dài hơn của chúng, chúng tạo thành một hình chữ nhật lớn hơn với tỷ lệ khung hình là √ 2 và nhân đôi diện tích của mỗi tờ giấy riêng lẻ.

Ta có thể hiểu là như thế này:

  • 2 tờ A10 ghép với nhau bằng cạnh dài sẽ bằng 1 tờ A9 có cạnh dài bằng 2 cạnh rộng của tờ A10.
  • Hoặc 2 tờ A5 ghép với nhau bằng cạnh dài ta sẽ được một tờ A4….

Bạn hãy lưu ý một điều số của kích thước A càng to thì khổ giấy càng nhỏ. Cứ 2 tờ khổ giấy nhỏ ghép cạnh dài với nhau sẽ bằng 1 khổ giấy to hơn:

Ví dụ:

  • 2 tờ giấy kích thước A5 ghép vào sẽ bằng 1 tờ giấy kích thước A4.
  • 2 tờ giấy kích thước A4 ghép với nhau sẽ được 1 tờ giấy A3….
  • Kích thước lớn nhất của dòng A là khổ giấy A0. Diện tích A0 đúng bằng 1m vuông.

Các khổ giấy kích thước lớn hơn A0 (B0, C0) không được quy định trong tiêu chuẩn ISO 216, ISO 217. Nó được gọi chung là khổ ngoại cỡ.

Nguồn gốc ra đời của dòng kích thước A nói chung và kích thước A4 nói riêng

  • Các loại khổ giấy

    Các loại khổ giấy

 

Nguồn gốc

  • Kích thước A4 được sử dụng sớm nhất là được dùng để viết một bức thư của nhà khoa học người Đức Georg Christoph Lichtenberg gửi Johann Beckmann vào ngày 25 tháng 10 năm 1786.
  • Năm 1798 các kích thước A2, A3, B3, B4 và B5 đã được quy định ở Pháp với mục đích chính để đánh thuế xuất bản phẩm dựa vào kích thước trang.
  • Hơn 100 năm sau, vào năm 1911, dòng khổ giấy A đã Wilhelm Ostwald đề xuất nhằm giúp cho việc lưu trữ và tái tạo tài liệu rẻ và hiệu quả hơn.
  • Năm 1918 Porstmann đã cho rằng một khổ giấy phải được tính theo diện tích chứ không phải các cạnh (bây giờ được gọi là khổ A với kích thước A0 = 1 mét vuông). Các khổ giấy còn lại được tính theo hai công thức x / y = 1: √ 2 và x × y = 1. Ngoài ra, ông cũng cho rằng, khổ giấy phong bì phải to hơn 10% so giấy khổ giấy bình thường (bây giờ được gọi là khổ giấy C)

Chuần DIN

  • Năm 1921, NADI, “Ủy ban tiêu chuẩn hóa của ngành công nghiệp Đức”, ngày nay là Deutsches Institut für Normung hay viết tắt là DIN) đã xuất bản tiêu chuẩn Đức DI Norm 476 vơi đặc điểm kỹ thuật của 4 loạt định dạng giấy với tỷ lệ 1: √ 2. Loạt A là định dạng luôn được ưu tiên và là cơ sở cho các loạt khác. Tất cả các thước đo đều được làm tròn chính xác đến từng milimet. A0 có diện tích bề mặt là 1 mét vuông tính đến sai số làm tròn. Chiều rộng A0 là 841 mm và chiều cao là 1189 mm. Diện tích thực tế là 0,999949 m 2. Kích thước A4 được khuyến nghị làm khổ giấy tiêu chuẩn cho thư từ kinh doanh, hành chính và chính phủ và A6 cho bưu thiếp. Dòng B dựa trên B0 với chiều rộng 1 mét. Dòng với C0 là 917 mm × 1297 mm. Dòng D với D0 771 mm × 1090 mm. Dòng C là cơ sở cho các định dạng phong bì.

Phổ biến

  • Công việc tiêu chuẩn hóa này của Đức được đồng hành bởi sự đóng góp của các quốc gia khác. Khái niệm định dạng giấy DIN được coi như một tiêu chuẩn ở nhiều quốc gia như Bỉ (1924), Hà Lan (1925), Na Uy (1926), Thụy Sĩ (1929), Thụy Điển (1930), Liên Xô (1934), Hungary (1938), Ý (1939), Phần Lan (1942), Uruguay (1942), Argentina (1943), Brazil (1943), Tây Ban Nha (1947) , Áo (1948), Romania (1949), Nhật Bản (1951), Đan Mạch (1953), Tiệp Khắc (1953), Israel (1954), Bồ Đào Nha (1954), Nam Tư (1956), Ấn Độ (1957), Ba Lan (1957) , Vương quốc Anh (1959), Venezuela (1962), New Zealand (1963), Iceland (1964), Mexico (1965)….

Tiêu chuần ISO 216

  • Năm 1975 nó đã trở thành tiêu chuẩn quốc tế (ISO 216) cũng như định dạng tài liệu chính thức của Liên hợp quốc. Ngày nay nó được sử dụng ở hầu hết các quốc gia trên hành tinh này (bao gồm cả Việt Nam). Ngoại trừ Bắc Mỹ, Peru, Colombia và Cộng hòa Dominica. .
  • Năm 1977, một nhà sản xuất ô tô lớn của Đức đã thực hiện một nghiên cứu về các định dạng giấy được tìm thấy trong thư đến của họ. Kết luận rằng trong số 148 quốc gia được kiểm tra, 88 quốc gia đã sử dụng các định dạng dòng A.

Kết luận

Hiện nay, Ở Việt nam hầu hết sử dụng kích thước A4 cho các loại văn bản, tài liệu. Tuy nhiên, các phần mềm soạn thảo như Microsoft Word… và Driver máy in lại hầu hết đặt mặc định là khổ Letter cho nên chúng ta muốn có một bản in đẹp và cân đối trên giấy kích thước A4 thì đều phải thay đổi trong thiết lập mặc định. Các bạn hãy chú ý nhé.

Trên đây là sơ lược một số điều về khổ giấy kích thước A4. Hi vọng sẽ giúp các bạn hiểu thêm về loại giấy chúng ta vẫn sử dụng hàng ngày này.

Dịch từ wiki

0.00 avg. rating (0% score) - 0 votes

Trả lời

Your email address will not be published. Required fields are marked